Chia sẻ: Vài ý kiến về cách đọc “trí tuệ” hay “trí huệ” trong các bản dịch sách Đại Pháp tiếng Việt

Vừa qua có nhiều học viên hỏi tôi về vấn đề cách đọc “trí tuệ” và “trí huệ” cách đọc nào đúng và “gần với ý của Sư Phụ” hơn. Xin có một vài chia sẻ đến mọi người như thế này.

Thứ nhất về nghĩa

Trước hết, chúng ta nên hiểu là trong toàn bộ các sách Đại Pháp. Sư Phụ chỉ dùng một khái niệm “trí tuệ” 智慧 – cho dù  chữ này trong tiếng Hán Việt có một cách đọc khác là trí huệ đi nữa – thì nó cũng chỉ được dùng với một nghĩa đen bề mặt duy nhất là “khôn, sáng trí, lanh lẹ, mẫn tiệp” (tiếng Anh là wisdom). Chứ trong sách Đại Pháp, chữ “tuệ” (hay huệ) này hoàn toàn không có bất cứ nét nghĩa nào là “ân huệ, ân điển” cả. Điều này chúng ta hoàn toàn có thể kiểm tự chứng bằng cách mở trang Luận ngữ trong sách tiếng Hoa ra, trong câu đầu tiên “Đại Pháp là trí tuệ của Sáng Thế Chủ” rồi xem xem chữ “trí tuệ” này Sư Phụ sử dụng chữ “tuệ” (huệ) nào.

Đó là chữ  tuệ慧 được cấu thành bởi hai thành tố: ở dưới là bộ tâm 心 (chỉ trái tim) và ở trên là chữ tuệ彗 (là cái chổi quét) , hàm ý là chúng ta phải dọn sạch sẽ cái tâm của mình thì mới có được “sự sáng suốt, thông tuệ”.

Chữ tuệ 慧 này hoàn toàn khác với chữ huệ 惠 trong “ân huệ”. Vì chữ 惠 (ân huệ) cũng là thuộc bộ tâm 心  , nhưng thành tố ở bên trên là chữ “chuyên” 專, hàm ý là khi ta chú tâm, chuyên tâm để mắt đến một ai đó thì chúng ta sẽ cho người đó nhiều “ân huệ” hơn.

 Và quan trọng hơn trong sách chỉ có chữ 智慧 (trí tuệ) chứ không hề có chữ 智惠 (trí huệ). Kể cả tên gọi mạng minghui.org cũng là 明慧. Đây là điều mà chúng ta nên cực kỳ lưu ý.

 Chữ 慧 cho dù đọc là “tuệ” hay “huệ” cũng hoàn toàn không có cái nghĩa “ân huệ” nào ở đây cả! Hẳn nhiên, phải nói thêm rằng: trong Hán ngữ hiện đại, người Trung Quốc đôi khi cũng sử dụng hai chữ “trí tuệ” 智慧và “trí huệ” 智惠 này lẫn lộn với nhau và đều cùng chỉ chung một nghĩa, tuy nhiên đó là thói quen sử dụng của người thường, không phải là cách sử dụng chữ của Sư Phụ trong các sách Đại Pháp. Và xin được nhấn mạnh lại một lần nữa một điểm cực kỳ quan trọng: Trong sách Đại Pháp CHỈ CÓ 智慧 CHỨ KHÔNG CÓ 智惠 !

 Thứ hai về âm đọc

Như vậy chữ  智慧 này là để chỉ “minh trí, sáng suốt, thông tuệ” theo nghĩa thông dụng. Trong tiếng Hán Việt có hai cách đọc là “trí tuệ” và “trí huệ”. Vậy đọc như thế nào là chính xác? Điều này có liên quan đến vấn đề lịch sử Ngữ âm.

Trước hết, chúng ta sẽ điểm qua một số cách đọc của các phương ngữ có ảnh hưởng từ gốc Hán hiện nay:

Đối với tiếng Hoa phổ thông: 智慧đọc là zhì hùi

Đối với tiếng Quảng Đông: 智慧đọc là zi3  wai3

Đối với tiếng Khách Gia: 智慧đọc là chu – fi

Đối với tiếng Mân Nam (bản địa Đài Loan và Phúc Kiến): 智慧đọc là dé – hiê

Đối với tiếng Triều Châu: 智慧đọc là di3  hui6

Đối với tiếng Nhật: 智慧đọc là Chi – e

Đối với tiếng Triều Tiên: 智慧đọc là ji – hye

Như vậy, chúng ta thấy rằng cách đọc “trí huệ” khá gần giống với các phương ngữ của Trung Quốc cũng như của Nhật Bản, Triều Tiên hiện nay.

 Như vậy, có phải cách đọc “trí tuệ” của người Việt là một thói quen sai? Không hẳn là như vậy nếu ta xét theo góc độ lịch sử ngữ âm. Đây là một vấn đề khá rắc rối, nhưng ở đây tôi chỉ cố gắng hết mức để diễn giải một cách đơn giản nhất.

Vị thế của Việt Nam trong lịch sử có một mối quan hệ tương hỗ khá đặc biệt với Trung Quốc. Nói một cách tóm gọn là: Việt Nam chịu ảnh hưởng ngôn ngữ của Trung Hoa từ rất sớm có thể bắt đầu từ thời nhà Tần và diễn tiến liên tục cho đến thời nhà Hán đô hộ rồi đến sau khi các triều vua phong kiến Việt Nam giành được độc lập.

Cách phát âm những thành tố Hán Việt của người Việt ví dụ như: quốc, gia, phụ, tử, phu, thê, sơn, hà, hải, hồ…. không phải do người Việt tự nghĩ ra – mà đó chính là cách phát âm của tiếng Hán thời Hán – Đường.

Ví dụ như nói người Việt bây giờ đọc một câu thơ 柳暗花明又一村  là “liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” thì người Trung Hoa thời Hán – Đường họ cũng đọc tương tự như vậy, chứ họ không đọc là “Liǔ àn huā míng yòu yī cūn” như tiếng Hán hiện đại bây giờ. Bởi vì ngữ âm là luôn luôn thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử, và – may mắn như thế nào  – cách đọc chữ Hán của người Việt Nam vẫn giữ sự tương đồng với thời Hán – Đường, dĩ nhiên là có sai biệt nhưng nó vẫn gần với thời đại đó hơn là các phương ngữ của Trung Quốc hiện giờ. Bắt đầu từ thời Nam Tống đến nhà Nguyên, ngữ âm tiếng Hán ở Trung Hoa bắt đầu có sự thay đổi rất nhanh, nhưng ở tại Việt Nam thì vẫn lưu giữ được rất nhiều các phát âm cổ mà người Trung Hoa hiện giờ đã mất. Việt Nam giống như là một cái ổ đĩa USB – hễ mỗi lần Trung Hoa thay đổi triều đại, thì những gì của triều đại cũ sẽ được Việt Nam lưu giữ lại.

Vậy bây giờ chúng ta xét đến âm đọc bản thân chữ 慧:

Trong tất cả các phương ngữ như tiếng Hán hiện đại, tiếng Nhật,Triều Tiên thì chữ 慧 chỉ có một âm đọc. Nhưng tiếng Hán Việt lại có 2 âm đọc là “huệ” và “tuệ”, “huệ” là cách phát âm thông dụng, và “tuệ” có thể là một kiểu phát âm mà tiếng Hán đã tiêu biến nhưng tiếng Việt vẫn còn lưu giữ lại.

Khi tra cứu các sách ngữ âm cổ kể từ thời Tống – Nguyên trở đi như Quảng Vận (Tống), Trung Nguyên Âm vận (Nguyên), Hồng Vũ Chính Vận Tiên (Minh) thì chữ 慧 và chữ 惠 có cùng âm đọc như nhau là “hui” (tương tự như “huệ”). Nhưng khi tra cứu trong Thượng cổ âm hệ (Một công trình chuyên khảo về ngữ âm tiếng Hán thượng cổ) thì chữ chữ 慧 và chữ 惠 có thanh phù khác nhau.

Thanh phù  – tức thành tố biểu âm trong các chữ Hán hình thanh của chữ 慧 là (tuệ). Nói đơn giản, là trong công trình này họ cho rằng 慧 vào thời thượng cổ có cách đọc y hệt như chữ . Tức là chữ 慧 vào trước kia có tới hai cách đọc (giống như  chữ ) chứ không chỉ có một cách như bây giờ. Trong tiếng Hán hiện đại chữ vẫn còn giữ được cả hai cách đọc là “huì” và “suì”.

Âm “huì” có phụ âm đầu là “h” thuộc nhóm phụ âm thanh hầu.

Âm “suì” có phụ âm đầu là “s” thuộc nhóm phụ âm đầu lưỡi, cùng nhóm với “t” trong tiếng Việt.

  • Như vậy chữ 慧 cho dù đọc là “huệ” hay là “tuệ” đều đúng.

Thứ ba cực kỳ nghiêm trọng: ta phải xét đến ảnh hưởng của một số tà thuyết xuất hiện tại Việt Nam

Chúng ta biết rằng, trong Phật giáo cũng có khái niệm “trí tuệ”, đôi lúc họ cũng nói là “trí huệ” nhưng đều cùng chỉ một khái niệm: đó là nói về ánh sáng trí tuệ giác ngộ của Phật (trí tuệ bát nhã). Khi tra cứu trong từ điển Phật học của Trung Hoa (cụ thể là từ điển Phật học của Phật Quang Sơn – một trung tâm nghiên cứu Phật giáo nổi tiếng của Đài Loan: https://www.fgs.org.tw/fgs_book/fgs_drser.aspx)  họ cũng chỉ có một khái niệm như vậy. Họ không phân ra “trí tuệ” là một thứ còn “trí huệ” là một thứ khác.

Nhưng không hiểu vì lý do gì, khi sang Việt Nam thì lại sinh ra cái chuyện “trí tuệ” là một khái niệm khác, còn “trí huệ” là một thứ khác nữa! Họ gật gù giảng giải rằng “trí huệ” mới là ánh sáng giác ngộ của Phật, còn “trí tuệ” chỉ là trí khôn con người! Đây là sự tự gán khái niệm mà không chịu trách nhiệm.

https://phatgiao.org.vn/tri-hue-va-tri-tue-duoi-cai-nhin-phat-giao-d36198.html

http://www.gioidinhtue.com/tri-thuc-tri-tue-va-tri-hue-theo-goc-do-phat-giao-va-khoa-hoc/

Đơn cử như hai bài viết trên đây, để mọi người xem mà hiểu rõ, đặng còn phân biện những thứ tà thuyết như vậy. Đã là học viên Đại Pháp, chúng ta không thể nào để những thứ tà vạy này ảnh hưởng trong khi học Pháp.

Tóm lại, những phần diễn giải trên đây có phần dông dài, nhưng tôi cũng chỉ nhằm chia sẻ với mọi người tính chất cấp thiết của vấn đề:

Ở góc độ người học Pháp, học viên Việt Nam trong khi học Pháp, cho dù chúng ta đọc là “trí huệ” hay “trí tuệ” tất cả đều là cách đọc đúng, giống như cùng một người nhưng có hai tên gọi vậy. NHƯNG – quan trọng là khi đọc lên như vậy, chúng ta hiểu cái nội hàm bên trong con chữ đó như thế nào, chữ “trí tuệ” (hay “huệ”) Sư Phụ sử dụng chỉ có một hàm nghĩa: đó là “minh trí, sáng suốt”. Còn nếu chúng ta hiểu theo cái nghĩa “trí là minh trí, còn huệ là ơn huệ” thì đó là cách hiểu lệch lạc. Khi tách đôi hai khái niệm này, chúng ta đã vô tình chịu ảnh hưởng của những tà thuyết của người thường khi nói về Phật giáo mà không hề hay biết. Và có không ít học viên cũng có lầm lẫn như vậy, nay xin được phân tích ra đây để mọi người cùng rõ.

Chúng ta học Pháp hay tu luyện, đều là từ góc độ lý tính chứ không thể dựa vào cảm giác. Sư Phụ đã giảng trong Bài giảng thứ nhất – Đặc điểm của Pháp Luân Đại Pháp: “Có người là dựa vào cảm giác mà luyện công, cảm giác của chư vị được tính là gì? Không là gì cả”. Dù thế nào, chúng ta cũng không thể gán cho Pháp những khái niệm không hề có. Mong rằng, những ý kiến này có thể giúp ích được một phần nhỏ nào đó cho việc học Pháp của mọi người. Nếu có điều gì thiếu sót, mong được chỉ rõ!

Chia sẻ của Daniel Nguyen – Học viên Pháp Luân Công tại Sài Gòn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s